Nguyễn Công Trứ - Thái độ sống

Nguyễn Công Trứ - Thái độ sống

Cụ Nguyễn Công Trứ

Trong chuyến đi Mỹ vừa qua, khi ghé đến Saint Louis, Missouri hay về lại San Jose, nó đã cho chúng tôi cơ hội gặp lại một số bạn bè để được chia sẻ về xu hướng thiết kế cũng như cái buổi tối trước khi ra phi trường về Việt Nam, chúng tôi quy tụ được một số bạn là những người làm trong những công ty công nghệ hàng đầu tại vùng thung lũng điện tử để được nghe những thông tin mới nhất về công nghệ. Tuy nhiên, điều thích nhất là đươc một anh bạn tặng một tập tài liệu nói về Nguyễn Công Trứ do giáo sư Ts. Keith W. Taylor biên soạn. Khi cầm tập tài liệu trong tay, chúng tôi liền liên tưởng về  những bài vịnh của ông đã được học thuộc lòng khi còn cắp sách đến trường.

 

 

 

 Với những câu thơ làm nức lòng tuổi trẻ

 

Vịnh đi thi

Đã mang tiếng ở trong trời đất 
Phải có danh gì với núi sông 


Chí làm trai

Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc.

Nợ tang bồng vay trả, trả vay.

Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây,

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.

 

Có thể nói, chính những dòng thơ này đã là một phần hành trang cho chúng tôi nương tựa tinh thần để vượt bao khó khăn trong thời gian sống tha hương bên trời Âu. Nó luôn là kim chỉ nam để định hướng và tạo ra một động lực tích cực từ 2 câu  “Đi không há lẽ trở về không -  Cái nợ cầm thư phải trả xong,..”. Do vậy, phải phấn đấu học hành cho đến nơi đến chốn.

 

Tượng đài cụ Nguyễn Công Trứ làm bằng đồng, quận Ba Đình, Hà Nội

 

Lúc về Sài Gòn, chúng tôi đọc tập tài liệu xem có gì hay ; mới thấy người phương tây họ sắp xếp và trình bày rất khoa học mà đại để như sau:

 

1)  Dẫn nhập về một miền Bắc thời Lê-Trịnh, rồi chiến tranh Tây Sơn.

2)  Nguyễn Công Trứ thuở hàn vi

3)  Nguyễn Công Trứ dâng sớ lên Vua Gia Long khi ngài kinh lý Bắc Hà năm 1803.

4)  Nguyễn Công Trứ, 28 năm hoạn lộ đa đoan từ 1820 với biết bao thăng trầm, vinh nhục, được mất,..

 

Nhưng gần đây, khi có dịp ăn trưa với ông Trần Sĩ Chương, ông cho biết sẽ có buổi nói chuyện với nhóm trẻ về chủ đề triết gia Epictetus của trường phái Stoicism mà khách mời là ông Hà Xuân Trừng. Sau khi gặp nhóm trẻ này cũng như trước đây mấy hôm, chúng tôi có hẹn gặp một nhóm mấy em – họ là những người rất năng nổ trong kinh doanh và muốn làm nhà phân phối sơn cho chúng tôi. Thú thật, trong cuộc gặp năm (5) em hôm đó thì chuyện trình bày về giải pháp sơn chỉ mất có 15 phút, phần còn lại hơn 1 tiếng 30 phút là anh em chúng tôi trao đổi về triết lý sống, nhân sinh quan và vũ trụ quan cũng như thái độ sống. Qua đó, nó cho chúng tôi một cái nhìn, một sự hiểu biết từ nhiều góc cạnh của tuổi trẻ, nhất là những người ở độ tuổi ba mươi, bốn mươi. Họ rất vững vàng về công việc, họ được đào tạo bài bản ở nước ngoài, có khả năng chuyên môn cao. Một số bạn rất thành công trong công việc. Tuy nhiên, họ đang thiếu một hệ tư duy lành mạnh trong cái xã hội hiện nay. Vì thế, họ cần được nghe, được sẻ chia từ những người sống nhiều, sống cao để rồi từ đó, họ tự xây dựng một triết lý sống, một thái độ sống và một phong cách sống cho riêng mình.

 

Đền thờ Nguyễn Công Trứ, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình

 

Qua những điều trên, nó thôi thúc chúng tôi viết bài này. Âu đó, cũng là ngụ ý của người tặng chúng tôi tập tài liệu. Bởi vì năm nay là năm Mậu Tuất mà người đại tài Nguyễn Công Trứ cũng sinh năm Mậu Tuất 1778, nghĩa là cách đây đúng 240 năm (ông mất năm 1858 là năm thực dân Pháp tấn công nước ta. Được biết trước đó mấy tháng ông đã dâng sớ lên Vua Tự Đức xin tòng quân; mặc dầu lúc đó ông đã ngoài 80 tuổi).

 

Nguyễn Công Trứ tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn, sanh tại làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương năm 1819 rồi ra làm quan khá trễ ở tuổi 42 khi hoàng đế Minh Mạng lên ngôi năm 1820. Trong 28 năm hoạn lộ thăng trầm có khi từng làm tham quan bộ lại, bộ hình, thượng thư bộ binh, phủ doãn (tỉnh trưởng thừa thiên), tổng đốc, đại tướng,... Đương thời ông nổi tiếng là một vị quan đại thần thanh liêm, chính trực. Một vị tướng tài ba lỗi lạc với nhiều công trạng hiển hách, nhiều sáng kiến như việc cơi đê lấn biển, khai khẩn và xây dựng thêm đất, lập thêm huyện cho dân nghèo…Tuy nhiên, ông từng bị cách chức nhiều lần có khi xuống làm lính thú ở tuổi 66,…

 

Nhà toàn năng

 

Theo chúng tôi, Nguyễn Công Trứ là một nhà toàn năng, bởi văn võ song toàn – kinh bang tế thế từ việc khai hoang, an trị dẹp giặc cho dân miền Bắc cũng như bình định miền Tây Nam bộ, đẩy lui giặc Xiêm La. Do đó, mỗi lần có dịp xuống Rạch Giá tham quan các công trình sử dụng sơn của Kelly-Moore ở khu lấn biển của tập đoàn Phú Cường là chúng tôi lại hình dung rằng 200 năm trước đây Nguyễn Công Trứ đã từng làm việc quai đê lấn biển này ở miền Bắc rồi. Còn vấn đề chính trị trong triều đình Huế thì do tính tình khí khái chính trực, thanh liêm nên ông đã bị một số quan lại trong triều đình hại như chuyện ông dâng sớ lên Vua cắt giảm bớt một nửa quan thần nên đã gây ra biết bao nhiêu phẫn nộ.

 

Xin có đôi dòng về giai thoại khi ông bị cách chức xuống làm lính thú. Ngày ông trình diện với quan Tuần vũ Quảng Ngãi trong bộ áo cụt quần lính. Quan Tuần vũ mời ông ngồi, ông từ chối. Rồi quan đề nghị ông thay áo ông cũng không chịu mà nói rằng: “Lúc làm tướng, tôi không lấy đó làm vinh, thì bây giờ làm lính, tôi cũng không lấy đó làm nhục. Người ta ở địa vị nào thì phải sống theo đúng địa vị ấy. Vả lại làm lính mà không mặc đồ lính thì sao cho ra lính (nên nhớ lúc đó ông đã là lão ông 66 tuổi). Cảm khái trước con người của Nguyễn Công Trứ, quan Tuần vũ dâng sớ lên nhà Vua xin thẩm duyệt lại nội vụ của Nguyễn Công Trứ và đã tìm ra manh mối về sự vu khống ông, nên năm sau, Vua Thiệu Trị lại phục hồi chức tước cho ông.

 

Nguyễn Công Trứ quai đê lấn biển

 

Theo thi sĩ Nguyễn Sỹ Đại viết về Nguyễn Công Trứ đã cho rằng ông đã tạo ra gồm đủ ba việc là lập đức, lập công và lập ngôn. Nghĩa là lập đức như cái cây, lập công như cái quả và lập ngôn như cái hạt để truyền lại đời sau. Lập đức tức xây dựng nền tảng đạo đức, nền tảng phép tắc trị nước là việc của bậc thánh nhân, lập công là việc của người anh hùng và lập ngôn là việc của kẻ sĩ.

 

Nhà tư tưởng

 

Xét về khía cạnh lịch sử của thời đại, chúng tôi cho rằng cụ Nguyễn Công Trứ là nhà tư tưởng, bởi trước đây hơn 200 năm khi mà đất nước đang ở trong chế độ quân chủ. Nghĩa là chỉ có vua và bầy tôi, ấy vậy mà Nguyễn Công Trứ đã có một thái độ sống rất đặc biệt. Ông bày tỏ cái tôi trên mọi phương diện mà điển hình đã được thể hiện qua bài ca ngất ngưởng như sau:

 

Vũ trụ nội mạc phi phận sự (Việc gì trong đời ta đều có trách nhiệm)
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên (
Phủ doãn: Tỉnh trưởng)
Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không tiên, không vướng tục
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú
(Những vị quan tướng nỗi tiếng  như Trái Tuấn, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật đời Hán & Tống)
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

 

Có thể nói Bài ca ngất ngưỡng là sự phản ảnh đúng chân tướng về con người Nguyễn Công Trứ

 

Điều đáng nói là trong cái xã hội phong kiến thời đó, nó đầy rẫy những khuôn mẫu, lễ nghi, phép tắc. Ấy thế mà Nguyễn Cống Trứ lại có cách sống rất ngất ngưởng. Thực ra thái độ và cách sống ấy của ông được bắt nguồn từ một bản lĩnh đầy tự tin và một ý thức muốn khẳng định cái cá nhân độc đáo của mình nên mới có những vần thơ như “Đã mang tiếng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông, …”  Hay  “Trời đất cho ta một cái tài, Giắt lưng dành để tháng ngày chơi, …”


Tư tưởng trên đã ảnh hưởng đến hậu thế mà chúng ta thấy được trong thơ văn của Tú Xương hay Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.

 

Đa tình

 

Ngoài việc ông đa tài, đa đoan thì ông còn rất đa tình. Trong hơn cả trăm bài thơ ca ông để lại cho hậu thế với sự biểu cảm qua bao cuộc tình của ông với thơ, với nhạc và ca kỹ, người ta nhận thấy nổi bậc nhất vẫn là bóng dáng của nàng Hiệu Thư với phong tư diễm lệ, tài hoa xuất chúng, giọng hát tuyệt trần. Thời trẻ Nguyễn Công Trứ là một tay nghệ sĩ đa tài chẳng khác gì Phạm Duy thời nay. Ông là nghệ sĩ rong ca ôm đàn theo phường hát ca trù lưu diễn nhiều nơi. Ngoài việc đóng góp về đàn hát ông còn viết lời ca nên mới được làm kép hát. Thời ấy phường ca trù nổi tiếng là làng Cổ Đạm có một danh ca tài sắc tuyệt mỹ. Từ làng Uy Viễn ông ôm đàn theo nàng, có bữa hai người ôm đàn qua đồng không mông quạnh, kép Trứ bèn vung kiếm ra tay khiến nàng chau mày “ứ hự”, ôi ngôn từ tuyệt vời “ứ hự” là lời cự tuyệt mắng yêu hay là tiếng thán từ biểu hiện cái gì đó.

 

Vài chục năm sau khi xuất chinh trừ giặc Phan Bá Vành vào những năm 1826, 1827 và làm quan tri bộ kiêm tổng đốc Hải An của hai tỉnh Hải Dương & Quảng An, Nguyễn Công Trứ cho tổ chức một cuộc hát ả đào tại tư dinh. Ông cho mời tất cả các danh kỹ trong vùng tới trình diễn. Trong số nghệ sĩ đó, có người nhận ra quan tổng đốc ngồi trên là chàng kép Trứ năm xưa, vì vậy khi đàn kêu tính tịch tình tang bỗng có giọng âm vang: “Giang sơn một gánh giữa đồng, thuyền quyên “ứ hự” anh hùng nhớ chăng”. Là người có trí nhớ tốt, nghe câu hát tổng đốc Nguyễn Công Trứ giật mình nhớ lại, ông nhìn nàng ca kỹ vừa hát thánh thót hỏi “có phải Hiệu Thư đó không?” Và ông liền làm vài dòng thơ đáp trả với một cách rất tế nhị, để an ủi những vầng trăng ngay khi nó đã xế:

 

“Trăng xế nhưng mà cung chẳng khuyết, Hoa tàn song lại nhụy càng tươi,…”

 


Khi biết Hiệu Thư vẫn phòng không chiếc bóng, quan Tổng đốc liền quyết định cưới nàng làm thiếp. Đời sau ghi lại, năm 1833 Nguyễn Công Trứ được cử đi dẹp loạn Nông Văn Vân từ Tuyên Quang cho tới vùng biển Quảng Yên, khi ấy dù gian lao Hiệu Thư vẫn theo chồng lo chuyện quan văn cung và nhờ vậy mọi việc mới ổn. Có những giai thoại tương truyền về “bậc lưu nữ anh hùng” không chỉ biết kim chỉ thêu thùa mà còn biết quan tâm phụ giúp quan tổng đốc mọi bề.

 

Cái đa tình của ông là rất tới, bởi khi ở cái tuổi thất thập cổ lai hy (70 tuổi) mà ông vẫn còn ỡm ờ với tình và cưới một cô vợ hầu hai mươi ba (23) tuổi. Cô dâu muốn hỏi tuổi đức lang quân “Tân nhân dục vấn lang niên kỷ”? (người vợ hỏi chồng bao nhiêu tuổi?) “Ngũ thập niên tiền nhị thập tam” (năm mươi (50) năm trước ta hai mươi ba). Trong nhiều thiếp, nhiều hầu có duyên có nợ đời đời kiếp kiếp với ông, phần còn lại ông chủ động tìm bến bờ cho họ. Cả cô vợ hầu trẻ, xinh đẹp đã nhiều lần cự tuyệt khi ông ngõ lời đề nghị để cô tự do chấp cánh bay.

 

Do vậy, trong thơ ông mới có mấy câu như sau: “Xưa nay mấy kẻ đa tình, Lão Trần là một với mình là hai” - Lão Trần tức Trần Tu, đời Lê 73 tuổi đỗ tiến sĩ, vua gả cho vị công chúa 17 tuổi.

 

 

GS. TS Keith W. Taylor

Bài viết được gợi ý và dựa trên tiểu luận Nguyễn Công Trứ do Gs Ts. Keith W. Taylor biên soạn cũng như tham khảo nhiều nguồn tài liệu, sách báo khác và nhiều dòng thông tin từ Internet.

 

Giáo sư Taylor là một cựu quân nhân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, Ông là một sử gia và chuyên gia về văn hóa Việt Nam thuộc trường đại học Cornell. Ông là nhà nghiên cứu về thi ca Việt Nam. Ông đã viết cuốn tiểu luận về Nguyễn Du trước khi viết về Nguyễn Công Trứ. Người ta gọi ông là Nhà Việt Nam học người Mỹ.